Đăng Nhập      Đăng ký Quên mật khẩu
Chương Trình Hóa Lớp 11
Câu Hỏi Thường Gặp
Cài Đặt Phần Mềm Hỗ Trợ
Giới Thiệu Gói Bài Học
Hướng Dẫn Học Viên
Thông Tin Người Dùng
Họ tên: Khách viếng thăm
Nickname: guest
Trường: N/A
Quận (huyện): N/A
Tỉnh (Thành phố): N/A
Ngày tham gia: 11/23/2014 4:34:36 PM
Dịch Vụ Hỗ Trợ
Thông Tin về Cadasa
Giới thiệu Chương trình Hóa học lớp 11
Các bạn click chọn bài học để xem chi tiết.

Số phần: 6 phần
Số lần xem tối đa: 6 lần/phần
bai giang hoa hoc 11
HỆ THỐNG BÀI GIẢNG HÓA LỚP 11 CADASA
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 9
Giới thiệu:

Sự điện li thể hiện bản chất của phản ứng không oxi hóa khử (phản ứng không làm thay đổi số oxy hoá của các nguyên tố) đó là các phản ứng như phản ứng trung hòa (phản ứng axit – bazơ), phản ứng trao đổi ion (muối).

Thông qua các bài giảng các bạn học sinh hiểu được bản chất của các phương trình ion thu gọn tổng quát, từ đó ta chỉ cần học 1 nhưng biết 10. Viết dễ dàng nhanh và chính xác các phương trình hóa học dạng phân tử.

 Các bạn học sinh áp dụng những kiến thức đã học để giải các bài tập trong sách giáo khoa cơ bản và nâng cao, các câu hỏi trong các đề thi đại học cao đẳng hàng năm, trong đó có những câu hỏi trong kì thi 2012 vừa qua có liên quan tới kiến thức của chương 1: Sự điện li giúp các bạn cập nhật những bài tập mới nhất cho năm học 2012- 2013.

Chi tiết
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 11
Giới thiệu:

Nhóm nitơ – Photpho chính là nhóm VA trong bảng hệ thống tuần hoàn.

Trong chương trình hóa học phổ thông chúng ta chỉ khảo sát  nitơ và hợp chất của nitơ, photpho và hợp chất của photpho.

Vì đây là các nguyên tố thuộc nhóm VA nên cấu hình electron của lớp vỏ nguyên tử ngoài cùng: ns2np3

- Ở trạng thái cơ bản các nguyên tố đều có 3 elctron độc thân ở ba orbital px, py và pz  nên các nguyên tố đều có cộng hóa trị 3, khi bị kích thích, 2 electron ở phân lớp ns2 có thể lên chiếm lớp nd tạo ra 5 orbital độc thân và có cộng hoá trị = 5, riêng nguyên tử 7N có cấu hình lớp vỏ ngoài cùng là 2s22p3 tức là không có phân lớp d nên khi bị kích thích electron ở lớp 2s không thể vượt lên lớp chính n = 3.

- Số oxi hóa  của các nguyên tố trong nhóm có thể tăng từ -3, 0, +1, +2, +3, +5

- Các đơn chất có số oxi hóa 0 nên có thể tăng hay giảm, nghĩa là tùy theo đối tượng tham gia phản ứng mà mỗi nguyên tố có thể cho (khử) hay nhận (oxi hóa) electron.

- Áp dụng tính chất của các hợp chất của nitơ và phopho để điều chế các loại phân bón hóa học.

Sau mỗi bài giảng đều có phần hướng dẫn giải các bài tập trong sách giáo khoa và trong các đề thi đại học cao đẳng những năm gần đây, trong đó có những câu hỏi trong kì thi 2012 vừa qua có liên quan tới kiến thức của chương 2: Nhóm nitơ – photpho giúp các bạn cập nhật những bài tập mới nhất cho năm học 2012- 2013.

Chi tiết
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 6
Giới thiệu:

Nhóm cacbon- silic của chương trình hóa học lớp 11 chính là nhóm IVA trong bảng hệ thống tuần hoàn. Đây là nhóm á kim điển hình. Những kiến thức về cacbon – silic và hợp chất của chúng đã được học ở lớp 8, 9, nhưng ở chương trình hóa học lớp 11 kiến thức được nầng cao hơn sau khi đã học về thuyết cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn, phản ứng oxi hóa khử, sự điện li (phản ứng không oxi hóa khử). Ngoài tính phi kim còn chú ý tới tính oxi hóa và tính khử của mỗi nguyên tố. Đối với hợp chất thì chú ý đến tính axit, tính bazơ, tính điện li, tính oxi hóa, tính khử.

Chú ý đến các phương pháp điều chế cacbon, silic và các hợp chất quan trọng của chúng trong phòng thí nghiệm và phương pháp hiện đại trong công nghiệp.

Đặc biệt là ứng dụng của cacbon, silic và các hợp chất quan trọng của chúng (nghành công nghiệp silicat).

Các bài học trong chương III giúp các bạn học sinh kĩ năng

+  viết các phương trình hóa học dưới dạng ion rút gọn, rồi từ đó viết các phương trình phân tử. (còn gọi là cách học xuôi).

+ Giải các bài toán hóa liên quan tới kiến thức của chương.

Các bài tập trong bài giảng có trong sách giáo khoa, sách bài tập hóa lớp 11, đặc biệt là những câu hỏi trong các kì thi tú tài, cao đẳng, đại học những năm gần đây.

Hy vọng những kiến thức trong các bài giảng của thầy giáo Nguyễn Phước Hòa Tân luôn đồng hành cùng các bạn trong năm học 2012- 2013.

Chi tiết
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 12
Giới thiệu:

Sau khi kết thúc các phần trong hóa học vô cơ các bạn học sinh chuyển sang chương 4 – Đại cương về hóa học hữu cơ – đây là chương chuyển tiếp giữa hai phấn khá khác biệt.

 Chương 4 bao gồm lí thuyết chủ đạo về hóa hữu cơ: phân loại hợp chất hữu cơ, các công thức biểu diễn thành phần phân tử hợp chất hữu cơ và các phương pháp xác định các công thức này, một số loại phản ứng tiêu biểu trong hóa hữu cơ, nội dung cơ bản của thuyết cấu tạo hóa học (khái niệm đồng đẳng, đồng phân, liên kết đơn, liên kết đôi, liên kết ba).

Với các bài giảng của thầy giáo Nguyễn Phước Hòa Tân giúp các bạn học sinh lớp 11 hình thành và củng cố kĩ năng về phân tích nguyên tố để biết cách xác định thành phần định tính, định lượng của chất hữu cơ, giải các dạng bài tập lập công thức phân tử, viết và nhận dạng một số loại phản ứng trong hóa học hữu cơ trong sách giáo khoa và trong các kì thi tú tài, đại học cao đẳng hàng năm.

Chi tiết
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 4
Giới thiệu:

Hidrocacbon No là chương nghiên cứu cụ thể về hợp chất hữu cơ sau khi đã học xong đại chương về hóa hữu cơ ở chương 4. Trong các bài giảng của chương này giáo viên sẽ giúp các bạn học sinh nắm được những kiến thức cơ bản về hợp chất hữu cơ  như: công thức cấu tạo, đồng đẳng, đồng phân, cách gọi tên (danh pháp), phương trình hóa học….
Nội dung của chương V – Hóa lớp 11 bao gồm:
_ Khái niệm về ankan, xicloankan: Công thức chung, đồng đẳng, đồng phân, danh pháp, tính chất vật lí, tính chất hóa học, điều chế và ứng dụng.
Qua chương này các bạn học sinh hiểu được phản ứng đặc trưng nhất của hidrocacbon no là phản ứng thế.
Sau mỗi bài học là bài tập áp dụng luyện tập kĩ năng trả lời câu hỏi và giải các bài tập tự luận và trắc nghiệm.

Chi tiết
Trình bày: Thầy Nguyễn Phước Hòa Tân
Số lượng: 7
Giới thiệu:
Hydrocacbon chưa no là những hydrocacbon có liên kết p trong công thức cấu tạo và do liên kết p kém bền nên các hydrocacbon chưa no dễ dàng mở liên kết p để kết hợp thêm các nguyên tử hay nhóm nguyên tử khác tạo thành các hợp chất no chỉ chứa toàn liên kết đơn s, do đó ta nên dùng thuật ngữ chưa no sẽ trở thành no, không nên dịch quá sát nghĩa (nonsaturé: không bão hoà hay không no tức là đói) e rằng không phù hợp với cách nói  lịch sự và chứa chan niềm hy vọng của người Việt.

Ta chỉ nghiên cứu ba dãy đồng đẳng hydrocacbon chưa no mạch hở có công thức phân tử tổng quát CnH2n+2-2k,với k = 1 và k = 2 là số liên kết p của hydrocacbon mạch hở.

- Với anken: Khi k = 1 và mạch hở ta có dãy đồng đẳng hydrocacbon chưa no có 1 liên kết p tức là một nối đôi mà ta gọi là dãy anken có công thức phân tử tổng quát: CnH2n  với  n ≥ 2. Chất đứng đầu và đơn giản nhất là etylen hay eten: CH2=CH2

- Với ankadien: Khi k = 2 và mạch hở ta có hai dãy đồng đẳng hydrocacbon chưa no, mỗi dãy chứa hai liên kết p: dãy ankadien có hai nối đôi và dãy ankyn có 1 nối ba. Hai dãy này có chung một công thức phân tử tổng quát:  CnH2n-2. Chất đứng đầu và đơn giản nhất là propadien: CH2=C=CH2

- Với ankyn thì n ≥ 2, chất đứng đầu và đơn giản nhất là etyn hay acetylen:CHºH.

Chi tiết
12